ngô đình diệm history, tôi yêu biển Việt-Nam, I love my vietnamese sea

Welcome to Vietnamese Sea - Chào mừng độc giả đến với biển Việt-Nam

 

 

Nhật ký biển Đông Việt Nam: Kinh tế tụt hậu, ngân hàng phá sản, lạm phát & đổi tiền cướp tiết kiệm

https://www.vietnamsea.org/ngo-dinh-diem-history-2016/nhatkybiendongvn_kinh-te-tut-hau-ngan-hang-pha-san-doi-tien-cuop-tiet-kiem.shtml

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 02.11.2017

Kinh tế gia Florin AFTALION, người kinh nghiệm về hiện tượng Lạm phát tại Phi châu và Nam Mỹ vào những thập niên 70, đã viết về việc can thiệp của quyền lực Chính trị, nhất là độc tài, vào lãnh vực Tiền tệ: “L’inflation est un moyen de financement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet á court terme d’accorder des hausses de salaire et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages. « (Lạm phát là một cách tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy.)
 
Nhà cầm quyền Cộng sản ăn cướp Tiết Kiệm của Dân bằng âm thầm in tiền mới cho vào lưu hành, phá giá đồng bạc. Trong ngắn hạn, người dân không nhận thấy liền, nhưng trong dài hạn với tích lũy việc cướp Tiết Kiệm này, đồng bạc bị phá giá, Nhà Nước độc tài không thể tiếp tục tăng mệnh giá đồng bạc nữa, buộc phải ĐỔI TIỀN và tuyên bố vỡ nợ Ngân hàng để ăn cướp trắng trợn lần chót trước khi đồng bạc nổ ra tanh bành.Chúng tôi xin trích đăng lại bài viết, ở ngay vào những năm 2013, của Tác giả MAI VĨNH THĂNG như một thông tin về việc in tiền cho vào lưu hành làm tăng lạm phát tiền tệ trong lúc Dân đang phải chịu hậu quả của phá sản Kinh tế do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ sinh ra từ Cơ chế CSVN.
 
VIỆT CỘNG AM THẦM PHÁ GÍA ĐỒNG BẠC VN
Mai Vĩnh Thăng, 16.04.2013

Thứ Hai 15/4/2013 ngân hàng nhà nước Cộng Sản Việt Nam (CSVN) bắt đầu cho lưu hành 30 nghìn tỷ đồng, tương đương 1 nghìn 400 triệu USD và phân phối cho các ngân hàng quốc doanh trong  59 tỉnh để cứu ngân sách thâm thủng và bất động sản đang trong tình trạng suy sụp.  Theo thống kê Bộ Xây Dựng số tiền cho vay và xuất ra xây cất bất động sản lên đến 1triệu tỷ đồng, tương đương với 47.8 tỷ USD.

Từ nhiều năm ngân hàng nhà nước CSVN đã tung tiền đầu tư bất động sản, là một trong những kế hoạch quan trọng kiếm lời cho đảng. Tuy nhiên vì xây cất thừa thãi, dân nghèo, mất việc không tiền mua nên từ đó bất động sản ứ đọng và rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất. Giải pháp duy nhất của nhà cầm quyền CSVN là in tiền để bù vào khoản thất thoát đó. “

Phá giá đồng bạc bằng Lạm phát như vậy, mệnh giá đồng bạc Việt Nam ngày nay cao quá không thể chịu được do tích lũy Lạm phát. Chúng tôi viết Bài này trong hoàn cảnh Tiền Tệ, Tài Chánh, Lạm phát... và nhiều Ngân Hàng chờ chết. Chúng tôi xin trình bầy tình hình này ở những khía cạnh sau đây:

=>       Những Bản Tin mới nhất về phá sản Ngân Hàng & về Đổi Tiền
 
=>       Cắt nghĩa về Lạm phát tích lũy biến đồng tiền thành giấy lộn
 
=>       Trả lời những câu hỏi đặt ra cho Lạm phát
 
=>       Thủ thuật ăn cướp lần chót Tiết Kiệm một cách vô liêm xỉ của VC.

Những Bản Tin mới nhất về phá sản Ngân Hàng & về Đổi Tiền    

Bản Tin 1
Chính Phủ VN sẽ phê duyệt ngân hàng phá sản, bất ngờ hàng loạt người dân ồ ạt đổ xô đi rút tiền

https://www.youtube.com/watch?v=J_WPZ43j3cY

Bản Tin 1
“Ngân hàng của cơ quan có máy in tiền thì làm sao chết được”
07:43 28/10/2015
 
Quốc hội lại “nóng” lên với câu hỏi về những hệ lụy mà hệ thống ngân hàng đang giải quyết như nợ xấu, ngân hàng yếu kém… là trách nhiệm của ai? Liệu những ngân hàng đáng nhẽ đã bị phá sản nhưng được NHNN mua về liệu có thể “sống lại” được không?
 
“Ngân hàng của cơ quan có máy in tiền thì làm sao chết được”
TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện phát triển kinh doanh, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia.
 
Trả lời những câu hỏi này, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện phát triển kinh doanh, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia (ông Nghĩa cũng từng là Vụ trưởng vụ Chiến lược phát triển - Ngân hàng Nhà nước) khẳng định những ngân hàng yếu kém và bị mua 0 đồng là do chính ông chủ nhà băng sai phạm, có gian lận thật sự trong hoạt động tín dụng.
 
Vậy nên, khi kinh tế khó khăn, bất động sản đóng băng, sản xuất kinh doanh khó khăn thì những ngân hàng này bị rơi vào tình trạng mất thanh khoản. Lỗi ở đây là ông chủ nhà băng vi phạm pháp luật về việc cho vay người có liên quan. Vì hoạt động cho vay người có liên quan đã được pháp luật quy định trong Luật các TCTD rồi, nhưng những ông chủ nhà băng đã giấu giếm nó một cách khá kín đáo.
 
“Những người liên quan này” không đứng tên họ, thậm chí là người thân trong gia đình họ. Họ nhờ một người nào đó đứng tên như bà tạp vụ, ông lái xe. Một ông chủ nhà băng có hàng chục công ty con là chuyện bình thường. Đấy là những điều khó khăn cho cả công tác điều tra của công an, vậy nên thanh tra ngân hàng không thể làm nổi.
 
Bản Tin 1
Xôn xao đổi tiền mới mệnh giá thấp không hình Hồ
Đăng bởi Alex Tran vào Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017 | 29.10.17
Báo Điện tử Quốc Hội Việt Nam bất ngờ nêu phương án đổi tiền với lý do "thuận lợi cho giao dịch".
 
Xôn xao đổi tiền mới mệnh giá thấp không hình Hồ Chủ tịch giữa lúc có tin Quốc hội thông qua Luật phá sản?
 
http://www.vanews.org/2017/10/xon-xao-oi-tien-moi-menh-gia-thap-khong.html

Cắt nghĩa về Lạm phát tích lũy biến đồng tiền thành giấy lộn

Chúng tôi xin cắt nghĩa về việc in tiền mới cho vào Khối tiền đang Lưu hành (Masse Monétaire en Circulation) và việc Lạm phát tăng lên thế nào. Lạm phát Tiền tệ là hành động ăn cướp Tiền Tiết kiệm của Dân.
 
Đồng Tiền khi mới in ra chỉ là một mảnh giấy có in hình, chữ và con số, chứ chưa mang giá trị nào cả. Nếu trong Chế độ BẢN VỊ VÀNG (Etalon-Or), thì cái giá trị của tờ giấy phải có Vàng bảo chứng. Nhưng Chế độ này đã bị thay thế bằng Chế độ BẢN VỊ-TIỀN TRUNG GIAN-VÀNG (Etalon-Devise-Or). Hội Nghị Tiền  Tệ năm 1944 tại Bretton-Woods đã chọn Dollar làm Tiền Trung gian, vì các Tiến khác đã không còn Vàng làm bảo chứng, chỉ có Mỹ còn Vàng trong Thế Chiến thứ II. Dầu sao Vàng vẫn là giá trị bảo chứng cho Tiền. Năm 1966, khi Pháp và Thế giới A-Rập muốn chiến tranh Tiền tệ với Mỹ nên đòi Vàng bảo chứng chuyển sang Pháp lấy Eurodollar và sang Thế giới A-Rập để lấy Petrodollar, thì TT.NIXON không chịu. Bắt đầu từ năm 1966, Tiền chỉ còn giá trị bảo chứng bằng TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA, nghĩa là nền sản xuất Kinh tế của mỗi nước (Etalon-Pouvoir d’Achat).
 
Vì vậy đồng Tiền mới in ra, phải hội nhập vào sản xuất Kinh tế thì mới mang Giá trị thực. Khi công nhân lãnh lương, thì đồng Tiền lương của họ có Giá trị bảo đảm Tiền. Họ tiết kiệm đồng Tiền ấy, đó là tiết kiệm bằng đồng Tiền thực đã hội nhập Kinh tế vì có TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA. Vì vậy , khi cầm đồng lương hoặc giữ tiết kiệm, mà thấy TƯƠNG ĐƯƠNG HÀNG HÓA bị kém đi, người ta gọi là LẠM PHÁT, Vật giá tăng.
 
Để cắt nghĩa một cách đơn giản những yếu tố tạo ra LẠM PHÁT, người ta thường lấy công thức của FISHER như sau:
 
     MV
  ----------     =       P
       T
              
MV là Lượng Tiền lưu hành trong nền Kinh tế trong một thời gian nhất định. T là Lượng Hàng sản xuất và trao đổi trong một thời gian nhất định. P là Giá Tiền tương đương cho đơn vị hàng trao đổi.
        
Nếu Khối Tiền lưu hành MV tăng lên bất thần mà Lượng hàng sản xuất T đứng yên, thì sẽ có lạm phát P. Cũng vậy nếu Lượng Tiền lưu hành MV đứng yên, mà Lượng hàng sản xuất T kém đi, thì cũng có lạm phát. Tại Việt Nam cả hai nguồn MV và T tạo ra LẠM PHÁT (P):
 
*        Một mặt MV, Lượng Tiền lưu hành được nhà nước bơm vào liên tục mỗi khi các Tập đoàn Kinh tế nhà nước thua lỗ, tham nhũng , biển thủ. Lạm phát phải tăng.
 
*        Mặt khác T, Lượng hàng hóa sản xuất liên tục giảm vì các Tập đoàn Kinh tế nhà nước tụt dốc năng suất. Lạm phát phải tăng.
        
Về cả hai mặt, Lạm phát tăng. Cộng cả Lạm phát của hai mặt, đó là LẠM PHÁT tăng bình phương vậy.
        
Quyết định cho in tiền mới đổ vào Lưu hành Tiền tệ mà không qua sản xuất, nhất nữa trong lúc Kinh tế đang tụt dốc phá sản, đó là quyết định cho tăng LẠM PHÁT tự do và nhất là quyết định ăn cướp khối Tiền tiết kiệm của dân bằng Tiền thực đang có tương đương hành hóa. Đây là TỘI ÁC ăn cướp vậy.
        
Chúng tôi muốn lấy một tỷ dụ thường ngày để cắt nghĩa Lạm phát của Việt Nam và hành động ăn cướp của nhà nước khi tung Tiền mới vào lưu hành.
        
Tỉ dụ năm 2015, khi nhà nước trao cho một xưởng sản xuất bát ăn cơm số vốn 1’000’000 đồng (MV). Xưởng sản xuất trong năm được 1’000 cái bát (T). Số vốn này trả cho công nhân làm việc sản xuất bát. Như vậy Giá của một cái bát P là 1’000 đồng ( = 1’000’000 / 1’000 = MV/T).
 
Năm 2016, nhà nước trao cho số vốn là 1’500’000 đồng, nhưng xưởng chỉ sản xuất được 1’000 cái bát như năm ngoái.  Giá của một cái bát năm nay là 1’500 đồng( = 1’500’000 / 1’000), nghĩa là lạm phát 50% do đổ vốn vào nhiều mà sản xuất không tăng.  Nếu năm 2012, nhà nước cũng giữ nguyên số vốn cung cấp là 1’000’000, nhưng vì thất thoát vốn hay vì kém năng suất sản xuất, xưởng chỉ sản xuất được 800 cái bát, Giá của mỗi cái bát sẽ là 1’250 đồng, nghĩa là lạm phát 25% do kém năng suất mặc dầu số vốn không tăng. Tại Việt Nam, nhà nước đổ vốn liên tục vào cho các Tập đoàn Kinh tế của mình, mà năng suất sản xuất lại kém đi, thì lạm phát sẽ do hai nguồn cộng lại mà tăng gấp bội. Thực vậy, nếu năm 2012, nhà nước tăng vốn lên 1’500’000, mà xưởng chỉ sản xuất có 800 cái bát, thì Giá của một cái bát sẽ là 1’850 đồng (= 1’500’000 / 800) do vừa tăng vốn vừa kém sản xuất, nghĩa là Lạm phát tăng 87.5%.
        
Một người công nhân lãnh lương năm 2015 và tiết kiệm, thay vì mua một cái bát phải trả 1’000 đồng như năm ngoái, năm nay họ phải trả 1875 đồng. Họ cầm đồng tiền bị mất giá vì tương đương hàng hóa kém đi. Họ bị ăn cướp Tiền thực đã tiết kiệm.
        
Như vậy việc quyết định in Tiền mới cho vào lưu hành, không qua sản xuất chắc chắn sẽ tạo lạm phát một mặt về tăng Tiền tệ lưu hành và mặt khác vì tụt giốc sản xuất của Kinh tế CSVN lúc này. Đây là hành động ăn cướp Tiết kiệm của Dân vậy.
 
 
Trả lời những câu hỏi
đặt ra cho Lạm phát
 
Lạm phát là gì ?
 
Trong Chế độ Bản vị tương đương Hàng hóa, Dịch vụ với đồng Tiền, Lạm phát hiện ra khi so sánh một Lượng Tiền nhất định đối với tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ ở hai thời điểm khác nhau. Nếu cùng một Lượng Tiền mà tương đương Hàng hoá hay Dịch vụ ít đi, người ta gọi là Lạm phát hay vật giá tăng. Cũng vậy, nếu cùng một Lượng Hàng hóa hay Dịch vụ mà phải dùng một Lượng Tiền cao hơn mới mua được, người ta gọi là Lạm phát hay vật giá tăng.
 
Tỉ dụ trong tháng 12.2015, để có mộ tô phở gà, phải có lượng tiền là 2’000 Đồng VN. Ở thời điểm đầu tháng 4.2016 này, muốn có một tô phở gà giống hệt, phải cần lượng tiền là 2’500 Đồng VN. Lạm phát là (500/2000) x 100 = 25% hay vật giá tô phở tăng 25%. Nếu một người chỉ có lượng tiền cố định 2’000 Đồng VN. Tháng 2.2015, người đó ăn được một tô phở gà cho no bụng. Đầu tháng 4.2011, người đó cũng chỉ có 2’000 Đồng VN, họ chỉ ăn được 2/3 tô phở và bụng đói. Đây cũng là Lạm phát, vật giá tăng, nhưng là do tương đương hàng hóa kém đi.
 
Đâu là những lý do chính yếu
gây Lạm phát ?
 
Lấy lại  Công thức đơn giản nhất của FISCHER về việc so sánh Lượng Tiền lưu hành và Lượng Hàng hóa, Dịch vụ sản xuất và trao đổi:
 
M.V
------   =  P
  T
 
M là Lượng Tiền cho vào lưu hành. V là tốc độ vận hành của đồng Tiền. Nếu V quy nhanh, thì lượng Tiền lưu hành tăng khối lượng lên. T là tổng lượng Hàng hóa, Dịch vụ sản xuất và trao đổi trong một khoảng thời gian. P là Chỉ số giá cả tiêu dùng.
 
T bao gồm những lý do tác động lên Lượng Hàng hóa và Dịch vụ tăng lên hay giảm xuống. M.V bao gồm những lý do tác động lên Lượng Tiền lưu hành. Cứ theo Công thức trên đây, nếu P tăng, tức là Lạm phát: (i) một là do T Lượng Hàng hóa, Dịch vụ sản xuất và trao đổi yếu kém đi; (ii) hai là do M.V Lượng Tiền lưu hành tăng lên. Nếu T giảm đồng lúc với MV.tăng, thì Lạm phát phi mã hai tốc độ.
 
(i)        Những lý do tác động lên (T)
Lượng hàng hoá, Dịch vụ trao đổi   
 
Trong bài Phỏng vấn do Ký giả Mặc Lâm thực hiện, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đã khẳng định một câu then chốt kết án cả một hệ thống Tập đoàn nhà nước, đó là việc yếu kém hiệu năng của những Tập đoàn này:
 
“Hiện nay tình trạng chi tiêu kém hiệu quả và đầu tư kém hiệu quả ở Việt Nam là tương đối nghiêm trọng và công luận cũng đã chỉ ra rất là nhiều công trình sau khi vừa mới cắt băng khánh thành xong thì đã hư hỏng và không bảo đảm các tiêu chuẩn như là đã có cam kết”.
 
Kém hiệu năng có nghĩa là phía T Lượng Hàng hóa, Dịch vụ trao đổi giảm xuống. Điều này làm cho Lạm phát, vật giá tăng ngay cả trong trường hợp M.V Lượng Tiền lưu hành không thay đổi.
 
Cái hiệu năng thuần túy Kinh tế được đo bằng Độ lớn rộng của Biên độ Lợi nhuận (Marges Bénéficiaires) chứ không phải Tổng lượng bán hàng. Trong Thế giới cạnh tranh hiện nay, nhất là Việt Nam đã vào WTO /OMC, việc cạnh tranh ở Thị trường rất xít xao đến nỗi các Công ty tham dự khó lòng tăng giá bán để Tổng lượng bán hàng tăng lên cao. Theo Kinh tế gia Paul SAMUELSON, Giáo sư Kinh tế Havard và Nobel Kinh tế, thì Biên độ Lợi nhuận (Marge Bénéficiare) đi đến triệt tiêu trong lâu dài ở Thị trường cạnh tranh.
 
Vì vậy, để có thể có được Biên độ Lợi nhuận nới rộng, các Công ty đặt trọng tâm ở việc quản trị Giá thành thấp xuống, chứ không phải ở chỗ tăng Giá bán. Chính vì điểm quan trọng là quản trị Giá thành mà các Tập đoàn quốc doanh có những sai lỗi, yếu kém không thể chữa trị được. Nó thuộc vào Cơ chế CSVN. Những Tập đoàn quốc doanh phạm vào việc quản trị Giá thành yếu kém sau đây:
 
*          Cơ sở Tập đoàn đồ sộ tốn kém, thiết bị sản xuất quá mức sánh với hàng hóa, dịch vụ cung cấp. Tất cả để lấy cái danh cho Tập đoàn chứ không theo chỉ tiêu Kinh tế. Đây là Chi tiêu cố định (Charges fixes) quá quan trọng sánh với lượng hàng hóa hay dịch vụ sản xuất. Chi tiêu cố định là những Chi tiêu giết chết xí nghiệp (Les Charges fixes sont des charges qui tuent l’Entreprise)
 
*          Về những Linh kiện và Nguyên vật liệu, thì phần lớn lại nhập cảng từ nước ngoài khiến Giá thành tăng lên cao, và do đó làm giảm Biên độ Lợi nhuận.
 
*          Lý do quan trọng hơn cả là Tham nhũng và Lãng phí mỗi khi xây Cơ sở hay mua thiết bị, mua những Linh kiện hay Nguyên vật liệu. Những người trách nhiệm Tập đoàn nhằm có những mua bán để Tham nhũng và Lãng phí. Đây là việc dễ dãi có vốn và không bị kiểm soát gắt gao từ Nhà Nước vì cùng đảng bao che cho nhau, hay chia phần tham nhũng, lãng phí cho nhau.
 
Những lý do thiếu hiệu năng trong quản trị chi tiêu không những làm tăng Lạm phát, mà còn đang dẫn nền Kinh tế quốc doanh đến phá sản như tình trạng hiện nay.
 
(ii)       Những lý do tác động lên (M.V)
Lượng Tiền lưu hành
 
Nhà Nước dễ dãi và dồn Tiền quá nhiều vào lưu hành qua những Tập đoàn quốc doanh khiến lượng (M.V) tăng lên gấp bội. Việc tăng (M.V) này, theo Công thức của FISCHER, tất nhiên làm tăng Lạm phát về phía Tiền bạc.
 
Cũng trong bài Phỏng vấn do Ký giả Mặc Lâm thực hiện, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh thẳng thắn xác nhận cái lỗi của Nhà Nước :
 
« Đương nhiên lạm phát trước hết là sản phẩm của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, bởi vì so với các nước trong khu vực thì lạm phát của Việt Nam cao nhất và cái cung tín dụng, cung tiền của Việt Nam cũng là cao nhất, và bội chi ngân sách của Việt Nam cũng là cao nhất, vì vậy cho nên muốn giảm lạm phát thì trước hết phải giảm cung tiền và cung tín dụng. »
 
Trong Bản Phúc Trình của Ngân Hàng Thế Giới đầu năm 2011, bản Phúc trình phê bình Đầu tư của Nhà Nước quá lớn cho những Tập đoàn quốc doanh mà hiệu quả lại rất yếu kém :
 
« Đầu tư Công: Số lượng và hiệu quả đầu tư công có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả đầu tư chung của nền kinh tế Việt Nam. Vốn đầu tư công đến từ nguồn ngân sách, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tín dụng và các nguồn khác, trong đó, hai nguồn đầu tiên chiếm tới 3/4 tổng số đầu tư công. Biểu đồ dưới đây cho thấy đầu tư công không ngừng gia tăng, chỉ giảm vào năm 2008 nhằm khống chế lạm phát bộc phát mạnh. Do khối lượng đầu tư công chiếm tới 49% trên tổng số đầu tư giai đoạn 1995-2008 và hệ số ICOR của khu vực công cao gấp rưỡi hệ số ICOR chung của nền kinh tế, hiệu quả đầu tư của khu vực công đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến NLCT của nền kinh tế Việt Nam (NLCT  p.40). »   
 
Về phương diện thổi phồng số vốn cho vào Lưu hành (M.V) khiến Lạm phát tăng vọt, chúng tôi muốn chú thích đến hai lãnh vực rất nguy hiểm cho nền Kinh tế :
 
*          Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, dưới quyền độc tài Chính trị ra lệnh, đã phá giá đồng Tiền VN nhiều lần. Chính việc phá giá này trực tiếp giảm giá trị Tiền tệ và tất nhiên trực tiếp gây Lạm phát.
 
Về phương diện Nhà Nước độc tài ra lệnh cho phá giá Tiền tệ để xẩy ra Lạm phát phi mã, chúng tôi luôn luôn trích lời của Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
 
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
 
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)
 
*          Hệ thống Ngân Hàng Thương mại với những Phát hành Tiền khả thể (Monnaie virtuelle)
 
Tiền Giấy công khai (Billet de Banque officiel) do Ngân Hàng Trung ương trách nhiệm phát hành. Nhưng khi một Ngân Hàng Thương mại giữ Cash Deposit tới mức 20% chẳng hạn, thì Ngân Hàng này có thể phát hành những Phương tiện thanh toán tới mức 100%, rồi tìm Chiết khấu, sau đó lại Phát hành tiếp. Tiến trình Phát hành này để các Công ty sử dụng tất nhiên thổi phồng lên Lượng Tiền lưu hành. Đó là nguồn quan trọng của tình trạng Lạm phát phi mã và tạo ra Khủng hoảng Tài chánh.
 
Chúng ta có những tỉ dụ cụ thể như hệ thống Ngân Hàng cho vay lỏng lẻo và thổi phồng Tín dụng. Đó là tỉ dụ hệ thống Ngân Hàng tại Á châu thời Khủng hoảng Tài chánh năm 1997 mà Bà Francoise NICOLAS đã phân thích và Quỹ Tiền tệ Quốc tế khi phải can thiệp đã buộc những Quốc gia nhận hỗ trộ phải cải tổ lại hệ thống Ngân Ngân cho xít xao. Một tỉ dụ gần đây nhất, đó là tỉ dụ của hệ thống Ngân Hàng Mỹ đã phát hành và cho ra những Subprime Mortgage Credits tạo Khủng hoảng Tài chánh năm 2008.
 
Tiền khả thể (Monnaie virtuelle) là Tín dụng thuộc về tương lai. Những Letters of Credit, Bank Guarantees, Standby Letters of Credit, Promissory Notes là những Phương tiện thanh trả như Tiền, nhưng chưa hiện thực. Giá trị của nó còn nằm trong khả thể, nghĩa là thuộc về hoạt động Kinh tế, Thương mại tương lai để cho những Giấy Ngân Hàng ấy giá trị hiện thực. Nhưng tương lai là bấp bênh.
 
Nhiều Ngân Hàng còn sử dụng ngay những Leased Bank Guarantee, chỉ cần thuê một Bank Guarantee với Tiền thuê 15-20% của Face Value để làm Collateral mà đi vay vốn.
 
Tất cả những Giấy tờ Ntgân Hàng này tạo nên một Bank Documents Market mà người ta có thể mua bán, cho thuê với nhau. Chúng ta ở một Thị trường của Tiền khả thể làm phồng lên Lượng Tiền lưu hành (M.V) khiến Lạm phát tăng vọt.
 
Hệ thống Ngân Hàng Thương mại ham Tiền lời và Hoa hồng cao, mà phát hành nhưng Phương tiện thanh trả Tiền khả thể một cách cẩu thả không xét kỹ khả năng hoàn vốn, thì hệ thống Tín dụng trở thành loạn và dễ tạo Khủng hoảng Tài chánh vậy.
 
 
Nhà Nước Việt có thể kềm chế nổi
Lạm phát hay không ?
 
Khi phân tích những lý do chính yếu trên đây đưa đến Lạm phát hiện hành, chúng ta thấy Nhà Nước CSVN khó lòng, hoặc bất lực đưa ra những biện pháp kềm chế nổi Lạm phát. Không thể kềm chế những lý do này theo kiểu dầu cù là thoa bóp ngoài da bởi vì những Lý do chính Lạm phát thuộc vào Cơ chế CSVN.
 
Trong bài Phỏng vấn do Ký giả Mặc Lâm thực hiện, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói chính yếu đến biện pháp giảm chi của Nguyễn Tấn Dũng , hoặc chỉ chi khi thấy có hiệu quả sản xuất, rồi kêu gọi dân đóng góp:
 
“… so với các nước trong khu vực thì lạm phát của Việt Nam cao nhất và cái cung tín dụng, cung tiền của Việt Nam cũng là cao nhất, và bội chi ngân sách của Việt Nam cũng là cao nhất, vì vậy cho nên muốn giảm lạm phát thì trước hết phải giảm cung tiền và cung tín dụng.
 
Tôi hy vọng là kỳ này Ngân Hàng Nhà nước sẽ thực hiện được cam kết của mình vì 2010 thì chỉ tiêu để cung tín dụng là 25% nhưng trong thực tế khi báo cáo trước Quốc Hội tuần trước thì đã xác nhận là đã có tăng lên trên 30% và cung tiền cũng tăng khoảng 30%, như vậy là mức cung phương tiện thanh toán còn rất là lớn, và để giải quyết vấn đề này thì tôi nghĩ rằng chính phủ phải đi đầu bằng cách cam kết cắt giảm bội chi ngân sách, cắt giảm các khoản đầu tư kém hiệu quả và nêu gương trong vấn đề tiết kiệm, và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn và nguồn lực của nhà nước, và đấy chính là sự đóng góp của nhân dân.”
 
*          Đối với những lý do tác động lên (T) Lượng sản xuất Hàng hóa, Dịch vụ, thì những Tập đoàn quốc doanh đang sống ngắc ngoải. Nếu giảm cung vốn, thì họ đi vào phá sản. Đây là điều mà Nguyễn Tấn Dũng không thể để phá sản như vậy vì họ là những con đẻ của Nguyễn Tấn Dũng.  Đứng về phương diện hiệu quả sản xuất, thì không thể một sớm một chiều mà tăng được hiệu quả của những Tập đoàn quốc doanh. Lạm phát tăng mỗi ngày, mà hiệu quả của Tập đoàn quốc doanh phải trường kỳ. Nói về vấn đề dân đóng góp, thì Cơ chế Nhà nước chủ đạo Kinh tế đang tụt dốc. Dân mất tin tưởng, làm sao dân bỏ tiền ra cho cho những Tập đoàn quốc doanh thâm thủng, tham nhũng, lãnh phí.
 
*          Đối với những lý do tác động lên (M.V) Lượng Tiến lưu hành, tước hết Nhà Nước bất lực với chính mình bởi lẽ chính Nhà Nước quyết định phá giá đồng bạc để tạo Lạm phát. Đối với hệ thống Ngân Hàng Thương mại đang phát hành những Phương tiện thanh trả Tiền khả thể (Monnaie virtuelle), thì họ đang có những ràng buộc với tương lai. Có những Phương tiện ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, họ không thể ngưng ngay được bởi lẽ những hậu quả tiếp tục trong trung hạn và dài hạn. Khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế đòi buộc việc cải tổ hệ thống Ngân Hàng vào những năm 1997 tại một số nước Á châu, thì IMF/FMI phải cung cấp Tiền cho hệ thống. Nhà Nước Việt Nam cạn kiệt Ngân sách và không thể cung cấp vốn cho hệ thống Ngân Hàng Thương mại, thì khó lòng dùng quyền Chính trị mà bắt hệ thống Ngân Hàng này cải tổ, trừ trường hợp dùng độc tài mà đóng cửa một số Ngân Hàng. Trong số những Ngân Hàng Thương mại, những Tổ chức Tài chánh – tỉ dụ dụ như chính của con gái Nguyễn Tấn Dũng – thì đó là con cháu của đảng, làm thế nào Nguyễn Tấn Dũng đóng cửa được.
 
 
Thủ thuật ăn cướp lần chót Tiết Kiệm
một cách vô liêm xỉ của VC.
 
Tất cả những Lạm phát bằng độc đoán cho vào Lưu hành Tiền Tệ những Lượng Tiền đều là việc ăn cướp Tiết Kiệm của người Dân. Trong ngắn hạn, Dân không nhận thấy ngay hành động ăn cướp này. Nhưng tích luỹ Lạm phát trong một thời gian, người Dân nhận ra qua mệnh giá tăng cao của đồng Tiền.
 
Ngày nay, mệnh giá của đồng bạc Việt Nam quá cao. Tỉ dụ USD.1.- = VNĐ 22'750.-. Cứ tiếp tục cái đà tích luỹ Lạm phát này thì Đồng Tiền VN chắc chắn đi đến chỗ thành giấy lộn cân kí mà không biết để làm gì. Nhà Nước CSVN đang đi đến 2 quyết định ăn cướp lần chót một cách tàn nhẫn:
 
*Tuyên bố Phá sản Ngân Hàng mà chi đền cho VNĐ.75'000'000.- (U SD.3'300.-)
 
*Đổi Tiền mới với mệnh giá nhỏ
 
*Tuyên bố Phá sản Ngân Hàng mà chi đền cho VNĐ.75'000'000.- (U SD.3'300.-)

Hai biện pháp này đều là ăn cướp Tiết Kiệm và mang tính cách liên hòan. Thực vậy, quý vị phải mau mau ra rút Tiền Tiết kiệm khỏi Ngân Hàng. Khi rút ra rồi, phải mau mau đi đổi Tiết Kiệm ấy sang mua sắm hàng hóa, bất động sản. Nếu chậm mua, thì biện pháp Đổi Tiền đến sau và hủy bỏ những Tiền mà quý vị chưa kịp mua hàng hóa hay bất động sản, nghĩa là chúng ta mất Tiền hai lần nếu chưa kịp rút ra khỏi Ngân Hàng hay rút ra rồi mà chưa tiêu !

*Đổi Tiền mới với mệnh giá nhỏ

Kinh nghiệm ở những lần đổi Tiền trước đây, CSVN sẽ ra thời hạn đổi Tiền thế nào để người Dân chưa kịp đổi hết số Tiền Tiết Kiệm, như vậy số còn lại phải hủy bỏ đi, nghĩa là chúng ta mất Tiền. CSVN sẽ làm mọi cách để người Dân chỉ có thể đổi được một món Tiền nhỏ.

CSVN biết rằng Dân còn tích trữ khối Vàng và Ngoại tệ Dollars hay Euros. Họ tính trước rằng với số lượng Tiền Mới đổi được ít ỏi, không thể đủ để tiêu xài trong một khoảng thời gian. Khi cấp bách phải tiêu xài sau đó, thế nào Dân cũng đưa Vàng hay Dollars, Euros... ra bán, lúc ấy CSVN mới tịch thu hay mua Vàng và Ngoại tệ với giá rẻ.
 
Đây là ăn cướp NHẰM VÀO VÀO VÀNG VÀ NGOẠI TỆ CỦA DÂN CHÚNG chứ không phải chỉ vào mớ tiền “Cộng Phỉ” nội hóa mà chính họ có thể tự do in ra bao nhiêu cũng được sau này.
 
Chúng tôi hy vọng rằng Dân chúng Việt Nam thông minh hơn đám ngố CSVN và có đủ biện pháp để đối phó với những mưu mô xảo quyết ăn cướp Tiền Tiết Kiệm của Dân.

Để Kết Luận ngắn,
 
Chúng tôi xin đưa ra Tin Tức mới nhất cho thấy rằng CSVN đang ăn cướp chính QUỸ TIẾT KIỆM của những người làm ăn cực nhọc và dành tiền cho tuổi Già và đóng Quỹ Tiết Kiệm. Thực vậy Quỹ này đã lấy Tiền của Quỹ ra để cho Nhà Nước vay tới 75% và Nhà Nước chỉ phát hành Giấy Nhận Nợ bằng Công Trái Phiếu. Người Lao động chắc chắn sẽ mất trắng số tiền mồ hôi nước mắt tiết kiệm cho tuổi già của mình.

Xin quý vị đọc Bản Tin sau đây thì thấy Cơ quan Bảo Hiểm Quỹ Tiết Kiệm Xã Hội đã liều mạng cho Nhà Nước vay số Quỹ khổng lồ của Dân đóng vào như thế nào. Khi về Già rồi mấy chục năm sau, Dân đòi Nhà Nước có lẽ phải đến Congo mới được một ít Tiền lại đã phá gia tanh bành như giấy lộn!
 
BẢN TIN
324.000 tỷ đồng Chính phủ vay Bảo hiểm xã hội đã được chuyển thành trái phiếu
Thứ ba, 28/02/2017 - 23:31
 
“Dân trí Đại diện Bộ Tài chính khẳng định, việc chuyển các khoản vay của ngân sách Nhà nước từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam dưới hình thức hợp đồng vay sang trái phiếu Chính phủ
 
Khoản vay của NSNN chiếm hơn 74% dư nợ đầu tư của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam năm 2015

Khoản vay của NSNN chiếm hơn 74% dư nợ đầu tư của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam năm 2015
 
Theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước kiểm toán về các hoạt động liên quan tới quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước năm 2015 của Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong tổng số hơn 435.000 tỷ đồng quỹ Bảo hiểm xã hội cho vay, số dư quỹ này cho ngân sách nhà nước vay lên tới 324.000 tỷ đồng, chiếm 74,46% dư nợ đầu tư, tăng 0,31% so với năm 2014”

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 02.11.2017
Web : http://VietTUDAN.net
Facebooks :  (1) Phuc Lien Nguyen  & (2) TU-DAN (TUdoDANchu)
Chú thích : Một số người vì phe nhóm, đã cố tình viết lệch lạc về Lý Lịch của tôi, nên tôi xin phép cho ở đây cái Link Lý Lịch NGUYỄN PHÚC LIÊN như sau :  http://www.viettudan.net/36984/index.html

 

 

 

 
 
Flag Counter

biển đông, bien dong