Welcome to Vietnamese Sea - Chào mừng độc giả đến với biển Việt-Nam

 

 

Chiến lược bảo vệ tổ quốc chống rợ hán xâm lăng 1

1, 2, 3, 4

Chính trị được xây dựng trên tương quan lực lượng. Những tư tưởng không mùi vị chiến đấu, sợ chiến tranh, lẩn tránh ánh sáng của lưỡi lê đều không phải là những tư tưởng có khả năng điều khiển xã hội
PROUDHON

(Không rõ tác giả, Trần Đại Việt bổ túc một số đoạn)
LỊCH SỬ  CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN Tàu ĐỐI VỚI VIỆT NAM.

Kể từ triều đại quan trọng đầu tiên được Bắc Kinh xác nhận là NHÀ THƯƠNG từ 1766 đến 1027 trước TL. Trong thời đại nầy, chế độ phong kiến được củng cố. Tàu bị phân tán ra thành hơn 70 nước nhỏ. Nhà CHU xưng vương, các nước lớn được phong tước bá, các nước nhỏ được phong hầu. Triều đại nhà Chu được chia làm hai thời kỳ: TÂY CHU từ 1122 đến 771 trước TL. ĐÔNG CHU chia làm hai giai đoạn XUÂN THU & CHIẾN QUỐC.

Thời Chiến Quốc là thời kỳ nảy sinh những nhà tư tưởng như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử...đã góp phần tạo dựng nền văn minh cổ Tàu. Sau thời kỳ Chiến Quốc, TẦN THỦY HOÀNG lần đầu tiên thống nhất Tàu .

Nhìn về phương NAM, AN DƯƠNG VƯƠNG khai sinh ra nước ÂU LẠC, nền móng của nước VIỆT NAM sau nầy. Vua lên ngôi hoàng đế, ra lệnh cho ĐỒ THƯ đem quân xâm chiếm đất đai của giống dân BÁCH VIỆT ở Quảng Đông và Quảng Tây. Vì cầu an, An Dương Vương xin thần phục nhà Tần. Tần Thủy Hoàng trị vì khoảng 40 năm thì chết. Tàu lại lâm vào cảnh nội chiến Hán Sở tranh hùng. Bốn năm sau, Lưu Bang diệt được Hạng Võ, lập nên nhà Hán. Lúc đó, Triệu Đà đã chiếm được Âu Lạc và đổi tên nước là NAM VIỆT, vẫn thần phục nhà Hán. Nhà Triệu làm vua được một thế kỷ. Đến năm 111 trước TL, Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức đem quân xâm lăng Việt Nam, quân nhà Triệu thua trận và Việt Nam bị Tàuđô hộ gần một ngàn năm. Dưới ách thống trị của Tàu, hầu hết những tên Thái thú Tàu đối với dân Việt đều tàn ác dã man. Ngoại trừ một số ít như Tích Quang và Nhâm Diên dùng sách lược “tầm ăn dâu” để đồng hóa Việt Tộc, vô cùng thâm độc.

Trong một ngàn năm Bắc thuộc, Tàu đã trải qua nhiều triều đại như: Hán, Tấn, Lương, Trần, Tùy, Đường...Thời đại nào, dân tộc Việt Nam cũng nổi lên chống ngoại xâm. Đầu tiên là hai bà TRƯNG, bà TRIỆU, LÝ NAM ĐẾ, TRIỆU QUANG PHỤC, MAI HẮC ĐẾ, PHÙNG HƯNG...nhưng tất cả đều thất bại, mãi cho đến năm 939, NGÔ QUYỀN đại thắng quân Nam Hán, mở đầu kỷ nguyên độc lập và tư chủ cho dân tộc Việt Nam.

Sau khi Việt Nam dành được độc lập hơn 50 năm. Lúc bấy giờ bên Tàu, nhà Tống đã kế nghiệp nhà Đường, lại đem quân sang xâm lăng Việt Nam. Nhưng, quân Tống bị THẬP ĐẠO TƯỚNG QUÂN LÊ HOÀN đánh cho tan tác. Ít năm sau, Tể tướng Vương An Thạch lại xua quân đánh chiếm Việt Nam để rửa nhục. Nhưng, vua nhà LÝ đã cử tướng tài ba thao lược LÝ THƯỜNG KIỆT đem quân tấn công, đánh phủ đầu quân Tàu xâm lược trước và chiếm được Châu Khâm, Châu Liêm trước khi rút quân về.

Triều đại nhà Tống kéo dài được 300 năm thì quân KIM từ quan ngoại kéo vào đánh chiếm bắc Tàu. Triều đình nhà Tống rút về phía Nam lập ra nhà Nam Tống kéo dài 50 năm thì quân Mông Cổ vượt Vạn Lý Trường Thành kéo vào chiếm đóng toàn cõi Trung Nguyên. Lúc đó, THÀNH CÁT TƯ HÃN đã chinh phục được Cao Ly, cùng những tiểu quốc vùng Trung Á và đã hai lần kéo quân đánh phá các nước Âu Châu. Người Âu Châu khiếp sợ gọi họ rợ Hung Nô. Nhưng, khi Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan ba lần đem quân đánh Việt Nam, nhưng cả ba lần đều đại bại.

Năm 1368, Chu Nguyên Chương, một ông sư hồi tục, hưng binh khởi nghĩa, đánh đuổi được quân Mông Cổ lập ra nhà Minh. Năm 1606, nhà Minh lấy cớ Hồ Quý Ly thoán đoạt ngôi vua, đem quân sang đánh Việt Nam. Hồ Quý Ly bị giết. Nhưng, dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của LÊ LỢI, nổi lên đánh đuổi được quân Minh và lập ra nhà LÊ.

Năm 1644, triều đại nhà Minh suy tàn, Lý Tự Thành nổi lên làm loạn, chiếm được Bắc Kinh. Vua Sùng Trinh thắt cổ tự tử. Tướng phòng thủ biên giới phía Bắc là Ngô Tam Quế mở cửa Sơn Hải quan cho quân Mãn Châu vào dẹp Lý Tự Thành và cai trị Tàu. Khác với quân Mông Cổ dùng bạo lực để cai trị, quân Mãn Châu dùng người Tàu, giữ nguyên hệ thống hành chánh, duy trì nền văn hóa, tôn trọng Nho học. Họ mang quân chinh phục thêm Ngoại Mông, Thanh Hải, Tây Tạng. Lãnh thổ Tàu hợp với đất Mãn Châu càng trở nên rộng lớn hơn.

Nhà Thanh cũng như những triều đại khác, lại đem quân sang xâm lăng Việt Nam thì bị vua QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ đánh tan. Triều đại nhà Thanh với những minh quân như Khang Hi, Càn Long đã đem lại sự ổn định và thịnh vượng cho Tàu một thời gian dài.

Sự thịnh vượng đó làm tăng thêm tánh tự cao, tự đại và kiêu hãnh của chủ nghĩa Đại Hán, cái rốn của vũ trụ. Vì thế, khi thực dân Châu Âu tràn vào áp chế Tàu, họ không thích ứng với sự đổi thay kịp thời như nước Nhật dưới thời vua Minh Trị Thiên Hoàng. Những cố gắng canh tân của vua Quang Tự chỉ kéo dài được 100 ngày thì Từ Hi Thái Hậu quản thúc, khiến Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi phải trốn sang Nhật. Triều đại nhà Thanh chấm dứt năm 1912 khi vua Phổ Nghi thoái vị, nhường chức cho Viên Thế Khải. Trong suốt thời gian dài đó, Tàutrong chiến tranh chống ngoại xâm rồi nội chiến, cuối cùng phe Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đuổi quân Tưởng ra Đài Loan, nhuộm đỏ toàn cõi Hoa Lục.

Nhìn lại chiều dài lịch sử hơn 3.000 năm của các triều đại phong kiến Tàu đối với dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất đầy gian khổ nhưng hào hùng và vô cùng gian khổ. Trên thế giới từ cổ chí kim, hiếm có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam bị Tàu đô hộ cả ngàn năm mà kẻ thù không không Hán hóa được Việt tộc và cuối cùng dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng dân tộc NGÔ QUYỀN, dân Việt đã vùng lên đánh bại quân xâm lược phương Bắc dành lại chủ quyền và nền độc lập - tự chủ. Nhờ vào những yếu tố nào mà mà tổ tiên chúng ta đã duy trì được bản sắc dân tộc, chống lại lại sự đồng hóa của kẻ thù phương Bắc?

Các triều đại phong kiến Tàulúc nào cũng vượt trội các nước láng giềng như Nhật Bản, Đại Hàn, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam...về lãnh thổ, dân số, văn hóa, khoa học kỷ thuật vào thời kỳ đó. Vì vậy, người Tàutự kiêu, tự mãn và tự đại tự phong cho mình như trung tâm của vũ trụ, gọi tên nước là Tàu, triều đình là thiên triều, hoàng đế là thiên tử thừa mệnh trời để cai trị nước Tàu và chinh phục các nước lâng bang phải thần phục Tàu và chủ nghĩa “Đại Hán” phát sinh từ đó.

Tuy vậy, các triều đại phong kiến Tàu vẫn lo sợ các nước nhỏ đánh phá hoặc xâm lăng. Từ hơn 2 ngàn năm trước, mối sợ hãi giống “Rợ Hồ” khiến Tần Thủy Hoàng phải cho xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 3.000 km để bảo vệ vùng biên giới. Nhưng, trường thành nầy cũng không ngăn chận nổi quân Mông Cổ, quân Kim rồi quân Mãn Thanh đã tràn vào Trung nguyên, cai trị Tàu, tổng cộng khoảng 500 năm. Riêng nhà Mãn Thanh mà người Tàu đã miệt thị, gọi là “Rợ” với dân số chỉ có 5 triệu người đã thống trị Tàu 268 năm  từ  năm 1644 - 1912 bằng bàn tay sắt máu.

Ngay vào thời nhà Tống bên Tàu, phía Bắc bị quân Liêu uy hiếp, bắt cắt đất, nộp vàng lụa, phía Tây bị Tây Hạ tấn công. Còn phía Nam, vua LÝ THÁI TỔ đã cử danh tướng, anh hùng dân tộc LÝ THƯỜNG KIỆT, TÔN ĐẢN và công chúa NGÔ CẨM THI cầm quân sang đánh Châu Khâm, Châu Ung và Châu Liêm đập tan âm mưu xâm lăng nước Việt ta từ trong trứng nước. Và một trong những trận đánh lừng danh trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Tộc đó trận đánh tan quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt vào năm 1076.

Người Tàu lo sợ lịch sử tái diễn, bị các nước nhỏ như Mông Cổ, Mãn Thanh thống trị. Họ chỉ cảm thấy an toàn là phải đi xâm chiếm, bắt buộc các nước nhỏ phải thần phục và sát nhập vào lãnh thổ Tàu, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền thành hình từ tâm trạng bất an đó. Từ Trung Nguyên, nước Tàu đã sát nhập Thanh Hải, Tân Cương, Nội Mông, Liêu Đông, Hắc Long Giang đã tăng gấp ba lần trong suốt 10 thế kỷ qua. Tham vọng bành trướng của các triều đại phong kiến Tàuchỉ bị chận đứng tại phía Nam vì sự chống trả quyết liệt của VIỆT TỘC từ đời nầy sang đời khác để duy trì nền độc lập tự chủ bằng máu.

NHỮNG BÀI HỌC QUAN HỆ GIỮA Tàu VÀ VIỆT NAM:

Như đã kể trên, Tàu tuy là một quốc gia rộng lớn, dân số đông đảo nhất thế giới với một nền văn minh cổ rực rở. Nhưng, không tránh những thăng trầm của lịch sử, có thời kỳ hưng thịnh và suy tàn như dòng thủy lên rồi rút xuống, không có triều đại vua chúa nào tồn tại vĩnh viễn, tất cả phải thay đổi. Tàu ví như một người khổng lồ chân đất sét, to con lớn xác nhưng không mạnh, bằng chứng là Tàu đã bị Mông Cổ và Mãn Thanh là những nước nhỏ thống trị hơn 5 thế kỷ. Người Tàu không phải là một dân tộc thuần chủng như ta tưởng. Thực chất, người Tàu đã lai giống với những dân tộc cai trị họ, đó dòng máu “RỢ” mà trước đó, họ đã miệt thị là “RỢ HỒ”, “RỢ HUNG NÔ”, “RỢ KIM” hay “RỢ MÔNG CỔ”... nên bản chất người Tàu ngày nay rất dã man, tàn bạo đối với nước bị họ thống trị, bởi vì trong huyết thống của họ đã pha trộn dòng máu “RỢ” từ thời trung cổ.

Trong lịch sử thế giới, hiếm có dân tộc nào có tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm như dân tộc Việt Nam ta. Nhờ vào yếu tố nào mà Dân tộc Việt Nam vẫn duy trì được nòi giống Tiên Rồng, mặc dù đã chịu nhiều ảnh hưởng của Tàu từ văn hóa, chánh trị, kinh tế sau 10 thế kỷ bị giặc Tàu đô hộ? Xin thưa, đó là tổ tiên ta biết giữ gìn và phát huy nền “VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỔ TRUYỀN DÂN TỘC”, tổ tiên chúng ta dùng nó như một cái khiên bảo vệ nòi giống; vì vậy, bất cứ thời đại nào cũng có anh hùng hào kiệt xuất hiện, quét sạch quân xâm lược phương Bắc ra khỏi bờ cỏi. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh đem quân sang xâm lăng Việt Nam đã thi hành chánh sách thâm độc là tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của nước Đại Việt về Tàu, có nghĩa là phải tiêu diệt nền “Văn Hóa Truyền Hóa Cổ Truyền” của Việt Tộc mới đồng hóa họ được.

Lịch sử Việt tộc là lịch sử đấu tranh trường kỳ gian khổ nhưng đầy hào hùng và dũng cảm. Cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước chống kẻ thù phương Bắc để bảo vệ chủ quyền và nền độc lập dân tộc. Những tinh hoa Văn Hóa truyền thống cổ truyền và giá trị luân lý đạo đức. Tất cả được dựng thành truyện truyền bá trong nhân gian. Đó là loại văn hóa bất thành văn, được truyền khẩu từ đời sang đời khác để gìn giữ khí phách hào hùng của dân tộc. Kho tàng VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỔ TRUYỀN của dân tộc rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh thần thoại Rồng Tiên, xin đơn cử 6 (Trần Đại Việt bổ túc ngày 28-04-2017) .câu chuyện điển hình, được phổ biến nhất. -

Ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn và văn-hóa nước có chiều dài lịch-sử trên dưới 70 ngàn năm trước và sau Tây lịch. - Trần Đại Việt bổ túc ngày 28-04-2017.

PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG: Tiền nhân đã dựng một chân dung NGƯỜI HÙNG DÂN TỘC thành một thần tượng chói sáng, rực rở trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm. Từ một cậu bé làng Phù Đổng có tầm vóc nhỏ bé trơ trơ, bỗng mang hình tượng người khổng lồ kỳ vỹ khi tổ quốc lâm nguy bị giặc Ân xâm phạm bờ cõi. Phải chăng tổ tiên ta muốn xây dựng hình tượng Phù Đổng Thiên Vương mang kích nhỏ bé như đất nước Việt ta vào thời đại đó, có thể đánh bại kẻ thù phương Bắc khổng lồ.

THẦN KIM QUI: Thần thoại nầy dựa vào sự thật của lịch sử dưới triều An Dương Vương khai sinh ra nước Âu Lạc. Đó một thông điệp nghiêm khắc của tiền nhân nhắc nhở dân tộc ta phải luôn luôn ĐỀ CAO CẢNH GIÁC kẻ nội thù, gián điệp, tay sai cho các thế lực thù địch. LOA THÀNH sụp đổ vỡ chỉ vì thiếu cảnh giác.

SƠN TINH - THỦY TINH: Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh của quần chúng chống lại Thủy Tinh, kẻ tượng trưng cho sức mạnh của lũ lụt để dân tộc sinh tồn. Đó là thông điệp báo động khẩn cấp của tiền nhân...

Ảnh hưởng của Phật Giáo: Với tinh thần đại từ bi, đại trí huệ, đại hùng lực, Phật giáo đã hòa nhập vào văn hóa Việt tạo thành chiếc khiên vững chắc bảo vệ tộc Việt trong suốt hơn 10 thế kỷ để cùng với dân tộc Đại Việt đánh đuổi giặc Tàu. Tuy nhiên, truyền thống này vào thời hiện đại đã bị mai một do đó cần phải khôi phục mạnh mẻ. - Trần Đại Việt bổ túc ngày 28-04-2017.

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO: Cũng giống như nước Nhật, nhờ ảnh hưởng của Nho giáo về lòng trung quân, ái quốc làm tăng thêm dân tộc tính của người Việt Nam là lòng yêu nước vô bờ bến và nung nấu tinh thần độc lập dân tộc càng thêm mãnh liệt. Vì vậy, đối với Tàu, Việt Nam là một khúc xương khó nuốt, ngăn chận sự bành trướng Hán tộc xuống vùng Đông Nam Á. Và sự quan hệ lâu đời giữa Việt Nam và Tàu tồn tại cho đến thế kỷ thứ 19 vì bị các đế quốc Âu Châu dòm ngó.

LỊCH SỬ Tàu CẬN ĐẠI ĐỐI VỚI VIỆT NAM:

Năm 1840, lịch sử Tàunhìn nhận là mốc dánh dấu điểm bắt đầu Tàuchuyển sang  cận đại và đã trải qua 3 cuộc chiến tranh lớn trong khoảng một thế kỷ, bị liệt cường Âu Châu và Nhật Bản xâu xé thảm hại:

-Trong lúc Tàu đang có chiến tranh, bận đối đầu với liên quân Anh, Pháp, Đức đánh vào Bắc Kinh hồi đầu thập kỷ 1860, thì tại Việt Nam, khi quân đội viễn chinh Pháp tiến đánh Bắc Hà vào năm 1882. Vua Dực Tông vẫn thiển cận, sai người sang cầu cứu nhà Thanh. Tuy rằng trong lúc đó nước Tàu bát quốc liên quân đánh cho tơi tả, nhưng triều đình nhà Thanh vẫn không bỏ ý định xâm chiếm Việt Nam. Tổng Đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh dâng mật sớ về triều nói rằng: “Nước An Nam và Tàu tiếp giáp với nhau, mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa. Vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh Thượng du”. Triều đình nhà Thanh nghe lời, sai đem quân sang giúp Việt Nam đánh nhau với Pháp. Nhưng, chỉ được 2 năm thì hai bên ký hòa ước, trong đó Tàu chấp nhận rút quân và công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Hòa ước nầy do Fournier và Lý Hồng Chương ký, phân định biên giới hai nước.

- Chiến tranh giữa Tàu và Nhật Bản vào năm Giáp Ngọ năm 1894.

- Chiến tranh Tàu và Nga ở vùng Đông Bắc vào năm 1906.

Người Âu Châu đã miệt thị, khinh khi dân tộc Tàu bằng những lời lẽ trịch thượng, chà đạp nhân phẩm Hán tộc như:”TRÊN THẾ GIỚI NƠI NÀO CÓ CHUỘT LÀ CÓ NGƯỜI TÀU”. Vì sống ở những nơi thiếu điều kiện vệ sinh tối thiểu, nên họ mắc một chứng bệnh ngoài da mà người ta gọi là “GHẺ TÀU”. Trong thời gian bị Nhật Bản đô hộ, người Tàu được coi như ngang hàng với...chó. Tại các công viên dành cho các gia đình viên chức người Nhật đều có treo bảng cấm: “NO DOGS AND CHINESE ALLOWED” họ mướn người Ấn Độ canh gác. Đó là một thực tế, không thể phủ nhận.

Một biến cố đầy bi thảm thứ hai là cuộc “THẢM SÁT NAM KINH” (Nanking Massacre) hay còn gọi là “CUỘC HIẾP DÂM Ở NAKING” (The rape of Nanking). Chỉ trong khoảng thời gian 6 tuần lễ, kể từ ngày 9 tháng 12 năm 1937, sau khi quân đội Thiên Hoàng đánh chiếm được Nam Kinh, có trên 300.000 người Tàu bị giết tập thể. Họ bị trói thúc ké và biến thành những hình nhân sống để quân đội Nhật thực tập cách đâm lưỡi lê và có khoảng từ 20 đến 80.000 phụ nữ Tàu bị họ hiếp dâm tập thể. Ngày nay, nó đã trở thành “HỘI CHỨNG NAM KINH” vẫn còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng của bọn Trung Nam Hải.

Tôi xin trưng dẫn những bằng chứng cụ thể:

Trước đây, Trung Cộng đã ký 4 thỏa ước về quyền khai thác những vùng Exclusive Economic Zone (vùng đặc quyền kinh tế): một với Nhật, một với Nam Hàn và hai với Việt Nam để khai thác tài nguyên trên biển cả như khoáng sản, dầu hỏa, hải sản...EEZ là vùng biển 200 hải lý là khoảng cách đo từ bờ ra. Theo tài liệu Japan Focus viết: “Ngư nghiệp và khả năng cung cấp có giới hạn của đại dương là địa bàn tạo ra những tiến bộ quan trọng trong việc cộng tác giữa những thế lực trong vùng, nhưng cũng tạo ra nhiều va chạm và khó khăn trong việc điều hành ngư nghiệp trong thời điểm việc đánh bắt cá giảm sút lớn lao.” Và những thỏa ước nầy gồm có ba vấn đề quan trọng:
•        Các nước tôn trọng quyền ngư nghiệp của những nước khác.
•        Đặt ra những nguyên tắc cho phép ngư thuyền của nước nầy vào EEZ của nước kia để đánh bắt hải sản. 
•        Tạo ra một quy chế quản lý cho nguồn hải sản chung của Thái Bình Dương.
Mỗi thỏa ước tạo ra một Joint Fishery Committee (Ủy ban hỗn hợp ngư nghiệp) có trách nhiệm:
•        Nghiên cứu tình trạng ngư nghiệp.
•        Tham khảo với nhau về ngư nghiệp, về số lượng hải sản mỗi nước được phép đánh bắt.
•        Khuyến cáo việc cho phép các ngư thuyền đánh bắt trong vùng EEZ của nước khác phải xin “license” và phải tuân theo luật biển của nước chủ nhà. Trong trường hợp ngư thuyền nước nào phạm luật, nước chủ vùng biển đó có thể bắt giữ ngư thuyền.

Tàu Nhật, Nam Hàn và Trung Cộng thường xuyên cho tàu hải quân tuần tiểu trên vùng EEZ của nước mình. Họ được quyền lên ngư thuyền ngoại quốc để kiểm soát giới hạn số hải sản được đánh bắt. Điều cần nói ở đây là tàu hải quân Trung Cộng thường tránh né, chưa bao giờ dám va chạm, đừng nói đến việc dám nổ súng vào những ngư thuyền của Nhật và Nam Hàn vì “Hội chứng NAM KINH” vẫn còn là một nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với Trung Cộng.

Nhưng, đối với các nước nhược tiểu như Việt Nam hoặc Philippines thì các ngư dân thường bị các tàu tuần tiểu Trung Cộng hành sử như bọn cướp biển Somalia hung hăng, tàn bạo, dã man. Chuyện mới vừa xảy ra gần đây nhất là việc ngư dân Việt Nam tại vùng biển Quảng Ngãi vào tạm trú tại đảo Trụ Cẩu thuộc quần đảo Hoàng Sa vì trận bão số 9 vào cuối tháng 9/9/2009. Họ đã bị lính Trung Cộng đánh đập dã man, phá hoại tài sản và cướp đi tất cả hải sản của ngư dân Việt Nam đã đánh bắt được. Mặc dù trước đây, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của Việt-Nam Cộng-Hòa bị Trung Cộng cưỡng chiếm sau trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19/1/1974 với Hải quân VNCH. Đây là hậu quả vô cùng tai hại do Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Phạm Văn Đồng ký giao vùng biển bao la nầy, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng bởi công hàm đề ngày 14/9/1958.

Đánh giá hành động côn đồ, hung hăn, hiếu chiến cái gọi là QĐND Trung Cộng, nói theo ngôn từ của Dương Tử: THÂN DÊ MÀ LỐT CỌP, THẤY CỎ THÌ THÍCH, THẤY CHÓ SÓI THÌ RUN, QUÊN MẤT BỘ DA KHOÁC NGOÀI LÀ LỐT CỌP. Chủ nghĩa Đại Hán chỉ dùng để bắt nạn, hù dọa, ức hiếp kẻ yếu và sợ kẻ mạnh hơn mình, nó đã trở thành thứ chủ nghĩa: “TIỂU nà má HÁN”

THAM VỌNG BÀNH TRƯỚNG LÃNH THỔ CỦA MAO VÀ ĐẢNG CS Tàu :

Từ năm 1939, khi viết cuốn “CÁCH MẠNG Tàu VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN Tàu ”...Mao Trạch Đông vẫn coi Việt Nam như một chư hầu và đã viết: “Sau khi đánh bại Tàu , các thế lực Đế quốc xâm chiếm những nước chư hầu: NHẬT chiếm Cao Ly, Đài Loan, Ryukyu, Rescadores và Port Arthur. ANH chiếm Miến Điện, Boutan, Hồng Kông. Pháp chiếm Việt Nam.” Năm 1953, Trung Cộng xua quân tấn công và sát nhập Tây Tạng vào lãnh thổ Tàu. Năm sau, họ in bản đồ quốc gia, trong đó lãnh thổ Tàu không những bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á. Nhưng, tham vọng bành trướng của Trung Cộng và những tên kế thừa Mao không dừng lại ở đó mà còn lấn sang biên giới Liên Xô và Ấn Độ để thỏa mãn lòng tự ái dân tộc sau 100 bị các cường quốc phương Tây xâu xé và sĩ nhục bởi thua trận CHIẾN TRANH NHA PHIẾN vào năm 1840 với Đế quốc ANH. Nhật Bản xem người Tàu ngang hàng với chó. Tại các công viên dành cho người Nhật đều có treo bảng cấm: “NO DOGS AND CHINESE ALLOWED”.

ĐỐI VỚI LIÊN XÔ:

Trung Cộng và Liên Xô có chung chiều dài biên giới khoảng 4.300 km. Họ đã có một cuộc chiến đẫm máu vào năm 1969 giữa hai đồng minh ruột thịt vì Trung Cộng đã xua quân chiếm vùng sông AMUR của Liên Xô, mà họ cho là thuộc chủ quyền của họ. Liên Xô phải vùng đến hỏa tiển để tiêu diệt quân Trung Cộng. Sau đó, hai người bạn tiêu biểu cho thành trì XHCN đã ký một hiệp định về biên giới năm 1977. Nhưng, Trung Cộng vẫn lén lút cho quân đội lấp đá và dồn bao cát bỏ xuống bờ sông Amur bên phía Trung Cộng để lấn ranh Liên Xô.

Khi Liên Xô xin gia nhập vào cơ quan Mậu Dịch Thế Giới (WTO), Trung Cộng chỉ đặt điều kiện duy nhất để hỗ trợ Liên Xô đó là cho phép người lao động Trung Cộng được vào Liên Xô miễn chiếu khán nhập cảnh. Một khi họ đã vào được Liên Xô, họ dùng mọi cách để ở lại hợp pháp. Ông Andrei Chernenko, Vụ Trưởng vụ Di Trú Liên Xô đã phát biểu rằng: người Tàu dùng mọi hình thức để hợp thức hóa sự hiện diện của họ, chẳng hạn như kết hôn với người bản xứ hoặc kinh doanh để tạo sản nghiệp lớn để dễ dàng trong việc lưu trú vì tài sản lớn của họ.

Mặc dù đã ký hiệp định với Liên Xô, nhưng những vị lãnh đạo của Trung Cộng như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình vẫn khẳng định rằng vùng đất VLADIVOSTOK và KHABAROVSK vẫn là của họ và trong trường học vẫn tiếp tục dạy học sinh rằng Liên Xô đã dùng bạo lực chiếm những vùng đất trên của họ. Hơn thế nữa, họ đưa ra bằng cớ về Nhân Chủng Học để chứng minh rằng những bộ lạc Tàu có mặt ở đó rất lâu trước khi người Nga tới. Sự di dân của người Hoa qua đường biên giới vẫn là nỗi ám ảnh của chánh quyền Nga. Theo ước tính của các chuyên gia thì đến năm 2010 dân số Tàu tại vùng Cận Đông của Nga sẽ lên đến 10 triệu người (hiện tại 3, 26 triệu) và kiểm soát từ 30 đến 40 % nền kinh tế của vùng nầy. Vì vậy, gần đây ông Viktor Ishayev, Toàn Quyền vùng Khabarovsk quyết định không cấp quyền công dân cho người Tàu dù đã kết hôn với người Nga tại địa phương, mặc dù người ngoại quốc khác được hưởng quyền nầy. Người Tàu ở Viễn Đông thường bị cảnh sát chận xét giấy tờ và nếu không có hộ chiếu kể như toi. Wei Zeze 42 tuổi, đã buôn bán ở Khabarovsk 10 năm nay, cho biết: “Kể cả có đủ giấy tờ, họ cũng đòi phạt từ 500 đến 2.000 rúp (16 tới 65 Mỹ kim).

Kim ngạch xuất khẩu của Nga sang Trung Cộng đang tăng. Giá trị hàng xuất khẩu, chỉ riêng tại cửa khẩu Khabarovsk tăng từ 82,4 triệu USD năm 1997, đã lên tới 628 triệu Mỹ kim. Hàng xuất khẩu của Nga chủ yếu là gỗ, dầu và nguyên liệu khô, khiến nhiều người Nga lo ngại Trung Cộng đang cướp bốc nguồn tài nguyên của họ.
Một số người Nga cay cú khi nhìn sang bên kia sông thấy những thành phố của Trung Cộng phát triển với những tòa cao ốc nguy nga và họ cho rằng người Tàu bên kia biên biên giới có được là nhờ ăn cắp tài nguyên của người Nga.

Alexei Mortsevm, một cựu thủy thủ, nói: “Trước kia, người Tàu bị coi là những lao động rẻ mạt và các ông chủ Nga cố thuê được càng nhiều càng tốt. Nhưng, giờ đây người Nga lại biến thành những kẻ đi làm thuê cho họ.”

Lyudmila, một giáo viên về hưu, bất mãn, nói: “Người Tàu xử sự như thể họ là chủ ở đây vậy. Vì cớ gì mà chúng tôi lại phải chào đón họ. Họ đang phất trên đầu chúng tôi.” Bà cụ 65 tuổi e rằng những ngày Khabarovsk được coi là một thành phố của Nga chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.

Slava, từng có 20 năm thâm niên trong ngành Hải quân, nói rằng: “Đã đến lúc người Nga phải hành động! Cần phải tống cổ họ đi, bởi miền đất nầy là của những chàng Ivan. Nếu không, chẳng mấy chốc, chính chúng ta sẽ biến thành dân nhập cư.”

ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ:

Với Ấn Độ, bắt đầu từ năm 1950 đã có những sự căng thẳng giữa hai quốc gia. Nhất là vào năm 1956 - 1957 khi Trung Cộng xây dựng trục giao thông quân sự  trên vùng đất đang tranh chấp AKSAI, phía tây Tân Cương. Ấn Độ lên án Trung Cộng xâm lăng vùng đất nầy của họ. Tiếp theo là cuộc đàm phán giữa hai bên kéo dài trong 3 năm không mang lại kết quả nào.

Tháng 10 năm 1962, Trung Cộng đưa 9 sư đoàn chiếm đóng dọc biên giới dài 3.225 km vùng biên giới Hy Mã Lạp Sơn và Trung Cộng. Hai nước đã nổ ra một cuộc đụng độ về quân sự tại vùng biên giới rất khốc liệt. Kết quả là Trung Cộng đã đẩy lui Ấn Độ sâu 50 km vào vùng đất Aksai mà Ấn Độ cho là thuộc chủ quyền của họ và Trung Cộng đơn phương ngưng chiến.

12 năm sau khi ngưng chiến, một cuộc họp song phương cao cấp về biên giới giữa hai quốc gia được tổ chức tại Tân Đề Ly vào tháng 2 /1994. mở đầu giai đoạn mới về bang giao giữa hai nước bắt đầu, tuy nhiên vấn đề biên giới giữa hai nước vẫn xảy ra nhiều mâu thuẩn gay gắt.

Báo Times of India số ra ngày 23/ 4/ 2009 với bản tin “CHINA HITS OUT AT INDIA’S DECISION ON NAVAL SYMPOSIUM” (Trung Cộng chỉ trích quyết định của Ấn Độ về Hội Nghị Hải Quân). Theo tờ báo Global Times nhận định: Ấn Độ nghi ngờ về sức tăng trưởng kinh tế của Trung Cộng, khi bàn về quyết định của chánh phủ Ấn không cho Trung Cộng tham dự hội nghị “Indian Ocean Naval Symposium” năm 2009 vì lo ngại Trung Cộng vươn ra vùng biển khu vực Ấn Độ Dương mà Ấn Độ xem như “ao nhà” của mình.

Báo India Express số ra ngày 15/ 5/ 2009 vạch rõ sự lo ngại nầy của Ấn “PORT IN CHINA’ S STRING OF PEARLS’ WORRIES INDIA” (Một hải cảng trong xâu chuổi ngọc của Trung Cộng làm Ấn Độ lo ngại). Đó là cảng GWADAR của Pakistan. Hải cảng nầy rất quan trọng trong chiến lược bảo vệ tuyến hàng hải chuyên chở năng lượng từ Trung Đông tới biển phía Nam Trung Cộng. Việc xây cảng Gwadar đã gây lo ngại, chẳng những cho Ấn Độ mà cho cả Hoa Kỳ vì cảng nầy là một viên ngọc quan trọng trong chuổi ngọc rải rác từ Bangladesh, Miến Điện tới biển phía Nam Trung Cộng thành hình một vòng đai thép, theo dõi các hoạt động hải quân Hoa Kỳ ở Vịnh Ba Tư và hải quân Ấn Độ ở biển Á Rập.

Phản ứng của Ấn Độ là đồng minh với Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Cuộc tập trận hải quân Hoa kỳ và Ấn Độ mang tên MALABAR 09 được thành hình do sáng kiến của Ấn Độ, được tổ chức lần đầu gần bờ biển Đài Loan và Trung Cộng kéo dài từ 26/ 4/ 2009 đến 03/ 5/ 2009 ở ngoài khơi Okinawa.

Phó Đô Đốc John Bird, Tư Lệnh Hạm Đội 7 nói: “Chúng tôi mong đợi cơ hội này để hợp tác với những lực lượng chuyên nghiệp nhất của hải quân ẤN ĐỘ & NHẬT.”

Bình luận gia Rajat Pandit của Ấn cho rằng: “Ấn Độ và các đồng minh đang có chiến lược xây dựng một trục hợp tác an ninh (security cooperation axis) ở châu Á Thái Bình Dương nhằm ngăn chận các “nguy cơ an ninh”. Rajat Pandit muốn ám chỉ “nguy cơ an ninh” đó là chánh sách di dân và lấn chiếm biên giới bọn rợ “Hán Cộng”.

Còn Hồ Cẩm Đào dịu vọng, nói: “Sự phát triển của hải quân Tàu là vì “Đại dương hài hòa” không hề có mục tiêu bá quyền.” Vì hắn ta cũng thừa biết rằng, nếu Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật trở thành đồng minh chiến lược tại biển Đông, một mình Trung Cộng mà chọi với  ba thì “không chột cũng què”.

Điều đáng chú ý hơn nữa, sau chuyến thuyết giảng về “Giác ngộ” tại Nhật, Đức Đạt Lại Lạt Ma sẽ trở về Ấn Độ vào tháng 11 năm nay và sẽ đến hành hương ở bang ARUNACHAL PRADESH mà Trung Cộng coi là lãnh thổ cũa họ. Chuyến vận động cử tri của Thủ tướng Ấn MANMOHAN cũng đã đến tiểu bang nầy, đã bị bọn CS Bắc Kinh phản đối kịch liệt. Thật sự, nó đã thách thức chủ nghĩa bành trướng của rợ “Hán Cộng” nên chúng phải sủa, cũng chỉ để hù dọa mà thôi. Ngày nay, Ấn Độ cũng có mấy quả bom nguyên tử đấy. Mấy tên lãnh đạo bọn CS Bắc Kinh có uống mật gấu cũng không dám hó hé. Đánh võ mồm nghề của bọn rợ “Hán Cộng” chỉ hù dọa được những tên lãnh đạo CS Hà Nội độc tài, vô dụng, hèn nhát và ngu dốt không đủ khả năng lãnh đạo quốc gia nên phải BÁN NƯỚC CẦU VINH.

ĐỐI VỚI MÔNG CỔ:

Sau 11 năm làm chủ Hoa Lục. Năm 1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Ulanbato của Mông Cổ để bàn về hiệp định hợp tác song phương và cả hai bên đạt được một hiệp ước về biên giới. Trong buổi tiệc khoảng đãi lãnh đạo Mông cổ tại Bắc Kinh ngày 27/ 12/ 1960, Chu Ân Lai tuyên bố: “Sự nhanh chóng giải quyết êm đẹp về vấn đề biên giới giữa hai quốc gia, không những đánh dấu sự củng cố và phát triển tình hữu nghị giữa hai quốc gia mà còn tạo gương sáng trong mối quan hệ hai nước XHCN anh em”. Nhưng, tiếc thay kỷ nguyên hợp tác thân thiện nầy tồn tại không được lâu.

Mặc dù hiệp định về biên giới được ký kết chính thức năm 1962, nhưng mãi đến năm 1982 mới được thực hiện. Trong khoảng thời gian 20 năm đó, Trung Cộng luôn luôn tìm cách lấn biên giới và cho di dân sang Mông Cổ. Năm 1981, dấy lên phong trào đòi trục xuất người Tàura khỏi Mông Cổ bùng nổ. Thêm vào đó, Liên Xô đã tố giác Trung Cộng vi phạm về hiệp định về biên giới với Mông Cổ tất cả hơn 400 lần chỉ riêng trong năm 1969.

Tờ New York Times ngày 27/5/ 1983 chạy trang đầu, tin Mông Cổ trục xuất nhiều ngàn công nhân người Tàu ra khỏi nước họ. Ngày 2/ 9/ 1964, tờ Pravda, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CS Liên Xô loan tin rằng: “Mao Trạch Đông rất hối tiếc vì không tranh thủ được sự đồng tình của Liên Xô để Trung Cộng chiếm luôn Ngoại Mông.”

ĐỐI VỚI TÂY TẠNG:

Sau khi đánh chiếm được toàn bộ Hoa Lục vào năm 1949, nhà cầm quyền  Trung Cộng lập tức đòi Tây Tạng phải chấp nhận:

-Quốc phòng của Tây Tạng phải do Trung Cộng kiểm soát.
-Tây Tạng là một bộ phận của Trung Cộng.

Dĩ nhiên đề nghị phi lý nầy không được chấp nhận. Liền sau đó, ngày 7/10/1950, Trung Cộng xua 40.000 quân đánh chiếm Chamdo, thủ đô miền nam Tây Tạng. Mặc dù Ấn Độ, Hoa Kỳ, Anh Quốc cùng một số quốc gia khác đã phản đối quyết liệt. Nhưng, Trung Cộng không những làm ngơ mà còn thách thức Quốc tế bằng cách đưa thêm một quân đoàn tiến vào thủ đô Lhasa vào ngày 9/9/1951. Lần lượt các thành phố khác của Tây Tạng rơi vào tay Trung Cộng. Mặc dù dân tộc Tây Tạng đã anh dũng tạo ra hai cuộc khởi nghĩa vào các năm 1956 và 1959. Nhưng, tất cả đều bị Hồng Trung Cộng đè bẹp. Kết quả là hơn 20.000 người Tây Tạng bị giết, khoảng 80.000 người cùng Đức Dalai Lama phải lưu vong sang Ấn Độ.

Sau hơn hai thập niên bị thống trị bởi Trung Cộng, có khoảng 1,2 triệu người Tây Tạng, tức 20% dân số đã bỏ mình trong các trại tù hoặc các nông trường tập thể, hoặc bị thủ tiêu. Nhiều tù nhân bị bỏ đói đến chết. Hơn 6.000 cơ sở văn hóa, đền đài, chùa chiền, tu viện bị Hồng quân Trung Cộng đốt sạch, phá sạch cùng với những bộ kinh Phật vô cùng quý giá. Mức độ đàn áp Phật giáo ngày càng tinh vi và vô cùng khốc liệt như cưỡng bách các tu sinh hoàn tục, hạn chế dạy giáo lý. Trước năm 1950, thiền viện SERA 585 tuổi, chứa trên 5.000 tu sinh, bây giờ chỉ còn 500 người.

Để duy trì lực lượng thống trị tại Tây Tạng, có khoảng 300.000 binh lính và công an nên phần lớn lương thực bị chánh phủ thu mua để nuôi đạo quân đông đảo nầy, vì thế đã gây ra hai nạn đói vào các năm 1958 - 1961 và 1966 - 1976. Chánh sách di dân Hán đã cưỡng bách diệt sinh đối với phụ nữ Tây Tạng, hủy diệt tính thuần nhất chủng tộc.

Ho cũng đã đưa đến Tây Tạng khoảng 7, 5 triệu người Tàu , vượt xa dân số Tây Tạng khoảng nửa triệu. Người Tây Tạng đã trở thành dân tộc thiểu số ngay trên chính quê hương của họ. Họ thống trị Tây Tạng không những về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Tàu và tiếng Tây Tạng chỉ là ngôn ngữ địa phương.

Các nhân chứng kể rằng: Ngày thứ sáu 27 tháng 2 năm 2009, nhằm ngày mùng 3 Tết Truyền Thống của dân tộc Tây Tạng. Có khoảng 1.000 vị sư đã bị lính Trung Cộng cấm vào tu viện KIRTI ở huyện Aba, tỉnh Tứ Xuyên để tưởng niệm ngày lễ MONLAM là một lễ hội cầu nguyện truyền thống sau ngày LOSAR, tức TẾT TÂY TẠNG. Phản đối lệnh công an, các vị sư đã ngồi bên ngoài tu viện và bắt đầu đọc kinh cầu nguyện. Lúc 1 giờ trưa, theo lời khuyên của một vị sư già, họ tự động giải tán. Nhưng, một vị sư trẻ khoảng 20 tuổi tên TAPEY tách khỏi đám đông. Ông phất lá cờ Tây Tạng mà ông tự thiêu hình ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA đi ra khu chợ gần đó, tự tưới dầu lên người rồi tự thiêu lúc 1 giờ 40. Một tên công an Trung Cộng nã 3 phát đạn vào sư Tapey. Ngay phát đầu tiên, vị sư yêu nước nầy ngã xuống và sau đó, bọn công an  kéo vị sư nầy quăng lên xe chở đi. Sự kiện nầy đã nói lên cái bản chất tàn bạo, dã man, giết người vì thú tính của giống rợ “Hán Cộng”.

ĐỐI VỚI SẮC DÂN TÂN CƯƠNG

Vào thế kỷ thứ 8 và 9, Hồi Giáo từ Thổ Nhỉ Kỳ du nhập vào Tân Cương. Dân Đột Quyết theo Hồi Giáo, từ đó gọi là dân Đột Hồi. Miền Tây Bắc Tàu bao gồm Tân Cương là nơi cư ngụ của trên 30 dân tộc thiểu số, gọi chung là Tây Vực. Hùng mạnh nhất là Mông Cổ, Khiết Đan, Đột Quyết, Hung Nô...

Năm 552, người Đột Quyết UIGHURS nỗi dậy lập nên nước Đột Quyết Hãn chiếm Tây Vực. Đó là nước Tây Đột Quyết Hản rất hùng mạnh vào thế kỷ thứ VIII (Tàu Văn Hóa Sử). Các triều đại nhà Đường (960 - 1126), nhà Tống (960 - 1126) không đủ sức giữ Tây Vực, rồi đến khi Mông Cổ trỗi dậy với Thành Cát Tư Hãn chiếm Tây Vực rồi thôn tính luôn Tàu , lập ra nhà Đại Nguyên (1206 – 1367). Tân Cương vẫn giữ riêng một cõi, ảnh hưởng Tàukhông đáng kể vì đạo HỒI là tôn giáo chủ thể ở Tân Cương. Dân Uighurs, Iran và Turkey theo đường Tơ - Lụa (Silkroad) vào Trung Nguyên buôn bán hương liệu. Lan Châu ngày nay là địa đầu biên giới Tân Cương và Hoa Lục.

Một sắc dân khác mà người Tàu miệt thị là RỢ KIM - RỢ NỮ CHÂN - RỢ MÃN đã chinh phục Tàu , lập ra nhà THANH và cai trị Tàusuốt 268 năm (1644 - 1912). Vua Khang Hy cũng chỉ nhận quyền “Tôn Chủ” ở Tân Cương với diện tích 1.6 triệu km2 là vùng tự trị của dân Uighurs và chỉ đặt quan Tổng Trú Sứ Đại Thần ở Urumqi. Ngày nay, được biết vùng Tân Cương có nhiều quặng mỏ và tiềm năng dầu hỏa.

Như chúng ta đã biết, cuộc nỗi dậy ngày 5 tháng 7 năm 2009 mà Tân Hoa Xã và Nhân Dân Nhật Báo gọi là “Đêm Kinh Hoàng” ở Tân Cương vào ngày kỷ niệm 60 năm mất nước (1949 – 2009), Hồng Quân Mao tiến chiếm thủ phủ Urumqi, thành lập chánh quyền Trung Cộng ở Tân Cương và cải danh là “Khu Tự Trị Uighurs”. Năm 1989, phong trào Tân Cương phất lên, được Liên Xô ủng hộ ngầm từ thập niên 1970. Kỷ niệm 50 năm mất nước vào năm 1999, phong trào phát xuất từ KAZAKHSTAN một Cộng Hòa cũ của Liên Xô.

Cuộc nỗi dậy của người Uighurs bắt đầu vào ngày 5/7/2009 tại Urumqi bị lực lượng an ninh Trung Cộng đã ra tay đàn áp dã man, khiến khoảng 200 người thiệt mạng và gần 2.000 người bị thương, sau đó không biết con số chính xác có bao nhiêu người Uighurs bị tra tấn đến chết ở trong tù? Nhiều cửa hiệu, xe cộ bị đốt cháy.

Hai ngày sau đó, Hồ Cẩm Đào đã vội vã bỏ ngang cuộc họp thượng đỉnh G 8, khẩn cấp trở về Trung Cộng để giải quyết cuộc khủng khoảng, vì Hồ Cẩm Đào có rất nhiều kinh nghiệm chỉ huy các lực lượng an ninh đàn áp đẫm máu các cuộc nỗi dậy của dân Tây Tạng trong thời gian giữ chức vụ BÍ THƯ ĐẢNG điều hành KHU TỰ TRỊ TÂY TẠNG vào năm 1989.

Trung Cộng áp dụng chánh sách đồng hóa dân Đột Hồi giống như Tây Tạng. Trước đây, dân Đột Hồi chiếm đại đa số ở Tân Cương, nhưng ngày nay họ đã trở thành dân tộc thiểu số chỉ còn 9 triệu, trong khi dân Hán hơn 10 triệu. Kể từ năm 1949 đến nay, dân Hán ở Tân Cương tăng hơn 20 lần. Riêng tại thủ phủ Urumqi, dân Hán chiếm đại đa số. Năm 1966, Hồng quân Trung Cộng đập phá 151 đền thánh Hồi Giáo tại Kashgar, giáp biên giới với Kirghizie, và biến một thánh đường đẹp đẻ thành chuồng nuôi heo.

Tại “HỘI NGHỊ UIGHURS THẾ GIỚI” do bà REBYA KADEER làm Chủ Tịch đã nhiều lần lên tiếng tố cáo bọn CS Bắc Kinh đang từng bước theo đuổi chánh sách Hán hóa và diệt chủng dân Uighurs rất thâm độc. Kể từ năm 1949, trẻ em Uighurs bị chánh quyền địa phương bắt buộc bỏ đạo Hồi, đổi qua tên Hán. Dân Uighurs và các sắc dân thiểu số khác bị dồn vào những khu vực riêng biệt cũng như bị phân biệt đối xử.

MÔNG CỔ, TÂY TẠNG và TÂN CƯƠNG là những bài học xương máu cho bọn THÁI THÚ CS HÀ NỘI rút kinh nghiệm để bảo vệ nền ĐỘC LẬP & TỰ CHỦ của TỔ QUỐC & DÂN TỘC VIỆT NAM mà tổ tiên chúng ta đã kiên cường và bất khuất nhất định không làm nô lệ cho cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Lời nói bất khuất đầy hào hùng của ĐỨC TRẦN HƯNG ĐẠO đã thắp lên một ngọn đuốc thiêng bất diệt và sẽ mãi cháy sáng rực rở trong dân tộc Việt Nam:
“NẾU BỆ HẠ MUỐN HÀNG, XIN CHÉM ĐẦU TÔI TRƯỚC ĐÔ

QUAN HỆ GIỮA ĐỆ TAM QTCS – MAO TRẠCH ĐÔNG – HỒ CHÍ MINH QUA CÁI GỌI LÀ CUỘC “KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 1945 – 1954”: .

Trong lịch sử đấu tranh oai hùng của Dân tộc Việt Nam chống kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc để tồn tại. Tổ tiên chúng ta đã kiên cường và bất khuất nhất định không làm nô lệ cho kẻ thù phương Bắc. Bao nhiêu thế hệ anh hùng dân tộc nối tiếp nhau từ các triều đại Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần - Nguyễn, tổ tiên chúng ta chỉ dựa vào sức mạnh vô địch của TÌNH ĐOÀN KẾT TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM để  tự lực chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược. Tổ tiên chúng ta đâu có cần cầu viện quân ngoại nhập hoặc dựa một thứ chủ nghĩa hay chủ thuyết ngoại lai vong bản nào đâu?  Biểu tượng vĩ đại nhất của tinh thần đoàn kết dân tộc là HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG. 

Quả thật, trong lịch sử chống ngoại xâm của Dân Tộc Việt Nam, không có cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc nào ngu xuẩn cho bằng hai cuộc “Kháng chiến chống thực Pháp” dưới sự lãnh đạo của HCM và cuộc “Chiến tranh chống Mỹ cứu nước” do HCM và Đảng CSVN lãnh đạo. Thật vậy, HCM đã hoàn toàn đi ngược lại tình đoàn kết truyền thống keo sơn gắn bó của tiền nhân bằng cách dùng thủ đoạn nham hiểm là gây chia rẽ, khủng bố, tàn sát người Việt Quốc Gia yêu nước để giành giựt chính quyền. Ông đã gián tiếp nối giáo cho giặc Pháp làm suy yếu tiềm lực chiến đấu của người Việt Quốc Gia. Bao nhiêu nhà ái quốc, các đảng phái cách mạng từ Nam ra Bắc, những anh hùng tử sĩ xả thân chiến đấu chống thực dân Pháp, họ không chết trước họng súng của quân xâm lược Pháp mà chết vì sự khủng bố tàn bạo do bọn sát thủ của Dương Bạch Mai, Trần văn Giàu, hung thần Chợ Đệm Nguyễn Trấn... theo lệnh của ông Hồ.

1, 2, 3, 4

 
 
Flag Counter

biển đông, bien dong